Văn Khấn » Văn Khấn Thần Tài
Ý nghĩa
Văn khấn gia tiên, thần linh
Lễ Vật Mâm Cúng Gợi Ý
- Hương, hoa tươi, trà, quả
- Trầu cau, rượu, nến
- Lễ mặn hoặc chay tùy tâm
- Vàng mã
Nội Dung Văn Khấn
Nam mô a di dà Phật!
Nam mô a (li đà Pliật!
Nam mô a di đà Pliật!
- Con lạy cliín phương trcri, mười phương Cliư Pliật, Cliư
Pliật mười phương.
- Kínli lạy ngài Hoàng Thiên Hậu Thổ chư v ị Tôn thần.
- Con kính lạy ngài Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thản Quân.
- Con kính lạy Tliần Tài vị tiền.
- Con kính lạy các ngài Thần linh cai quản trong xứ này.
Tín chủ lù ............................................................................
Ngụ tại: {dia_chi}
Hôm nay là ngày: {ngay_cung}tháng ........năm ...................................
Tín chủ con thành tâm sửa biện, hương hoa, lễ vật, kim
ngân, trà quà và các llĩửcúng dâng, bầy ra trước Ú n . Dốt nén
hương thơm kính mời ngài Thần Tài vị tiền.
Cúi xin Thần Tài thương xót tín chủ, giáng lâm trước án,
chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, phù trì lítì chủ
chúng con an ninh khang thái, vạn sự tốt lành, gia đạo hưng
thịnh, lộc tài tăng tiến, tâm dạo mở mang, sở cầu tất ứng, sở
nguyện tòng tâm.
Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin
dược pliù hộ độ trì.
Nam mô a di dà Phật!
Nam mô a di đù Phật!
Nam mỏ a di (íà Phật!
PH ẰN II
NGHI LỄ Ỏ CHÙA, ĐÌNH, ĐỀN, MIẾU PHỦ
N GHI L Ể THỜ CÚNG ở CHÙA
1. Vài nét về Đạo Phật
Việc lẻ chùa hiện nay đã trở thành nét đẹp trong văn hoá
tinh thần thường nhật của người Việt. Từ thành thị đến nông
thôn, các ngày sóc, vọng bà con thường rủ nhau đến chùa lễ
Phật. Các lễ tiết trong năm. mọi người cúng lễ ở nhà nhưng
cũng không quên lên chùa lễ Phật. Các cụ già làng còn lo
làm lễ cầu an ở chùa cho dân hoặc làm lễ dâng sao, trừ ôn
dịch, sâu bọ phá hoại mùa màng. Xưa khi có hạn hán kéo
dài, quan lại và các kỳ hào còn đến chùa thờ Tứ Pháp làm lễ
đảo vũ, để cho dân có nước cấy cày, cho cỏ cây tươi tốt...
Những việc làm tướng như không mấy khoa học song lại
đẩy thiện tâm, gửi gắm niềm tin của dân gian qua bao đời.
Một sô chùa nổi tiếng trớ thành các danh sơn cổ tích, hàng
năm có nhiều người đến lễ Phật hay vãn cảnh chùa như:
Chùa Hương Tích, chùa Tây Phương (Hà Tây), chùa Tây
Thiên (Vĩnh Phú), chùa Quan Âm, chùa Trấn Quốc, chùa
Hà, chùa Một Cột, chùa Thánh Quang (Hà Nội), chùa Đọi
Sơn, chùa Ông, chùa Bà Đanh, chùa Trinh Tiết, chùa Quế
Lâm (Hà Nam), chùa Bích Động, chùa Địch Lộng (Ninh
Bình), chùa Tháp Phổ Minh, chùa Keo Hành Thiện, chùa Bi,
chùa Cổ Lễ. chùa Lương, chùa Phúc Hải, chùa Ninh Cường
(Nam Định), chùa Keo, chùa Phúc Lâm, chùa An Cố (Thái
Bình), khu danh sơn Yên Tử (Quảng Ninh), chùa Côn Sơn
(Hải Dương), chùa Dâu và trung tâm Luy Lâu, chùa Keo
(Bác Ninh), chùa Tượng Sơn (Hà Tĩnh), chùa Sư Nữ (Nghệ
An), chùa Thiên Mụ (Huế), chùa Tây An (Núi Sam, An
Giang), chùa Phước Lâm (Tây Ninh), chùa Giác Lâm (thành
phô Hồ Chí Minh)...
Mọi người ái mộ đạo Phạt và đến với Phật giáo bằng tấm
lòng từ thiện. Mọi khổ hạnh cũng như hoan lạc đến với con
người không phải do khách quan mà do chính con người
hiện tại hoặc quá khứ đã tạo ra, “nhân nào quả ấy” .
Vậy lịch sử đạo Phật ra sao, vị trí thờ tự như thế nào,
dưới đây xin được điểm qua sơ lược cách thức bài trí, tôn thờ
cũng như ý nghĩa và nghi thức thờ cúng của hệ thống tuợng
pháp trong chùa.
Theo sách Phật giáo phổ thông, cùng một sô' tư liệu khác
thì đức Phật là con vua Tịnh Phạm ở phía Bắc xứ Ân Độ, gần
núi Hy Mã Lạp Sơn (nay là nước Népal). Mẹ người họ Thích
Ca (Cakya), nên sau này gọi Thích Ca Mâu Ni Phật. Lúc mới
sinh người được đặt tên là Tất Đạt Đa (Siddharta). Thái tử
Tất Đạt Đa mới chào đời được 7 ngày thì mẹ là Hoàng hậu
Ma-Gia tạ thế, em bà là Ma Ha Ba Xà Ba Đẻ thay chị nuôi
dưỡng Thái tử đến khi khôn lớn.
Thuở ấy xã hội Ấn Độ chia thành năm đẳng cấp. Ba lớp
người thuộc tầng lớp Bà la môn, cùng vua chúa, quý tộc và
thương gia, chủ đồn điền mặc sức đàn áp hai đẳng cấp dưới.
Thái tử Tất Đạt Đa buồn phiền, chán chường trước sự bất
công, tàn nhẫn ấy, đồng thời nhìn nhận rõ sự dối trá. vô
thường của xã hội.
Năm 19 tuổi, Thái tử quyết bỏ hoàng cung; từ giã vợ
hiển, con nhỏ cùng cung điộn nguy nga, dấn thân vào vòng
khổ ải, tìm đường cứu độ cho chúng sinh. Sau sáu năm tu
ã ll
hành khổ cực ở núi Tuyết mà vẫn chưa giác ngộ, ngài ngồi
thiền định dưới gốc cây Bồ đề 49 ngày mới đại ngộ chân lý
vũ trụ cũng như nguồn gốc sinh tử của chúng sinh. Và suốt
49 năm sau này ngài đi nhiều nơi giáo hoá chúng sinh,
không phân biệt sang hèn, chủng tộc mong giải thoát cho
con người khỏi bể khổ. Nãm 544 (trước Tây lịch) ngài viên
mãn, sau khi di chúc cặn kẽ chí nguyện của mình cho các đệ
tử, mong có sự “truyền đãng” mãi mãi về sau.
Để biểu thị đức độ và sự hy sinh cứu giúp nhân loại của
Đức Phạt, dân gian đã tạo hệ tượng pháp để người đời soi rọi
mà tu thân:
- Tượng Tam thế: Thường đặt ở vị trí cao nhất. Ba pho
tượng kích cỡ như nhau, đểu ngồi tĩnh toạ trên toà sen. Đây
là biểu tượng cao đẹp cho ba thời kỳ tu hành: quá khứ là
Đức A Di Đà, hiện tại là Đức Thế Tôn Mâu Ni (Phật Thích
Ca), tương lai là Đức Di Lạc. Hầu hết các chùa dẻu có bọ
tượng nà
Nam mô a (li đà Pliật!
Nam mô a di đà Pliật!
- Con lạy cliín phương trcri, mười phương Cliư Pliật, Cliư
Pliật mười phương.
- Kínli lạy ngài Hoàng Thiên Hậu Thổ chư v ị Tôn thần.
- Con kính lạy ngài Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thản Quân.
- Con kính lạy Tliần Tài vị tiền.
- Con kính lạy các ngài Thần linh cai quản trong xứ này.
Tín chủ lù ............................................................................
Ngụ tại: {dia_chi}
Hôm nay là ngày: {ngay_cung}tháng ........năm ...................................
Tín chủ con thành tâm sửa biện, hương hoa, lễ vật, kim
ngân, trà quà và các llĩửcúng dâng, bầy ra trước Ú n . Dốt nén
hương thơm kính mời ngài Thần Tài vị tiền.
Cúi xin Thần Tài thương xót tín chủ, giáng lâm trước án,
chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, phù trì lítì chủ
chúng con an ninh khang thái, vạn sự tốt lành, gia đạo hưng
thịnh, lộc tài tăng tiến, tâm dạo mở mang, sở cầu tất ứng, sở
nguyện tòng tâm.
Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin
dược pliù hộ độ trì.
Nam mô a di dà Phật!
Nam mô a di đù Phật!
Nam mỏ a di (íà Phật!
PH ẰN II
NGHI LỄ Ỏ CHÙA, ĐÌNH, ĐỀN, MIẾU PHỦ
N GHI L Ể THỜ CÚNG ở CHÙA
1. Vài nét về Đạo Phật
Việc lẻ chùa hiện nay đã trở thành nét đẹp trong văn hoá
tinh thần thường nhật của người Việt. Từ thành thị đến nông
thôn, các ngày sóc, vọng bà con thường rủ nhau đến chùa lễ
Phật. Các lễ tiết trong năm. mọi người cúng lễ ở nhà nhưng
cũng không quên lên chùa lễ Phật. Các cụ già làng còn lo
làm lễ cầu an ở chùa cho dân hoặc làm lễ dâng sao, trừ ôn
dịch, sâu bọ phá hoại mùa màng. Xưa khi có hạn hán kéo
dài, quan lại và các kỳ hào còn đến chùa thờ Tứ Pháp làm lễ
đảo vũ, để cho dân có nước cấy cày, cho cỏ cây tươi tốt...
Những việc làm tướng như không mấy khoa học song lại
đẩy thiện tâm, gửi gắm niềm tin của dân gian qua bao đời.
Một sô chùa nổi tiếng trớ thành các danh sơn cổ tích, hàng
năm có nhiều người đến lễ Phật hay vãn cảnh chùa như:
Chùa Hương Tích, chùa Tây Phương (Hà Tây), chùa Tây
Thiên (Vĩnh Phú), chùa Quan Âm, chùa Trấn Quốc, chùa
Hà, chùa Một Cột, chùa Thánh Quang (Hà Nội), chùa Đọi
Sơn, chùa Ông, chùa Bà Đanh, chùa Trinh Tiết, chùa Quế
Lâm (Hà Nam), chùa Bích Động, chùa Địch Lộng (Ninh
Bình), chùa Tháp Phổ Minh, chùa Keo Hành Thiện, chùa Bi,
chùa Cổ Lễ. chùa Lương, chùa Phúc Hải, chùa Ninh Cường
(Nam Định), chùa Keo, chùa Phúc Lâm, chùa An Cố (Thái
Bình), khu danh sơn Yên Tử (Quảng Ninh), chùa Côn Sơn
(Hải Dương), chùa Dâu và trung tâm Luy Lâu, chùa Keo
(Bác Ninh), chùa Tượng Sơn (Hà Tĩnh), chùa Sư Nữ (Nghệ
An), chùa Thiên Mụ (Huế), chùa Tây An (Núi Sam, An
Giang), chùa Phước Lâm (Tây Ninh), chùa Giác Lâm (thành
phô Hồ Chí Minh)...
Mọi người ái mộ đạo Phạt và đến với Phật giáo bằng tấm
lòng từ thiện. Mọi khổ hạnh cũng như hoan lạc đến với con
người không phải do khách quan mà do chính con người
hiện tại hoặc quá khứ đã tạo ra, “nhân nào quả ấy” .
Vậy lịch sử đạo Phật ra sao, vị trí thờ tự như thế nào,
dưới đây xin được điểm qua sơ lược cách thức bài trí, tôn thờ
cũng như ý nghĩa và nghi thức thờ cúng của hệ thống tuợng
pháp trong chùa.
Theo sách Phật giáo phổ thông, cùng một sô' tư liệu khác
thì đức Phật là con vua Tịnh Phạm ở phía Bắc xứ Ân Độ, gần
núi Hy Mã Lạp Sơn (nay là nước Népal). Mẹ người họ Thích
Ca (Cakya), nên sau này gọi Thích Ca Mâu Ni Phật. Lúc mới
sinh người được đặt tên là Tất Đạt Đa (Siddharta). Thái tử
Tất Đạt Đa mới chào đời được 7 ngày thì mẹ là Hoàng hậu
Ma-Gia tạ thế, em bà là Ma Ha Ba Xà Ba Đẻ thay chị nuôi
dưỡng Thái tử đến khi khôn lớn.
Thuở ấy xã hội Ấn Độ chia thành năm đẳng cấp. Ba lớp
người thuộc tầng lớp Bà la môn, cùng vua chúa, quý tộc và
thương gia, chủ đồn điền mặc sức đàn áp hai đẳng cấp dưới.
Thái tử Tất Đạt Đa buồn phiền, chán chường trước sự bất
công, tàn nhẫn ấy, đồng thời nhìn nhận rõ sự dối trá. vô
thường của xã hội.
Năm 19 tuổi, Thái tử quyết bỏ hoàng cung; từ giã vợ
hiển, con nhỏ cùng cung điộn nguy nga, dấn thân vào vòng
khổ ải, tìm đường cứu độ cho chúng sinh. Sau sáu năm tu
ã ll
hành khổ cực ở núi Tuyết mà vẫn chưa giác ngộ, ngài ngồi
thiền định dưới gốc cây Bồ đề 49 ngày mới đại ngộ chân lý
vũ trụ cũng như nguồn gốc sinh tử của chúng sinh. Và suốt
49 năm sau này ngài đi nhiều nơi giáo hoá chúng sinh,
không phân biệt sang hèn, chủng tộc mong giải thoát cho
con người khỏi bể khổ. Nãm 544 (trước Tây lịch) ngài viên
mãn, sau khi di chúc cặn kẽ chí nguyện của mình cho các đệ
tử, mong có sự “truyền đãng” mãi mãi về sau.
Để biểu thị đức độ và sự hy sinh cứu giúp nhân loại của
Đức Phạt, dân gian đã tạo hệ tượng pháp để người đời soi rọi
mà tu thân:
- Tượng Tam thế: Thường đặt ở vị trí cao nhất. Ba pho
tượng kích cỡ như nhau, đểu ngồi tĩnh toạ trên toà sen. Đây
là biểu tượng cao đẹp cho ba thời kỳ tu hành: quá khứ là
Đức A Di Đà, hiện tại là Đức Thế Tôn Mâu Ni (Phật Thích
Ca), tương lai là Đức Di Lạc. Hầu hết các chùa dẻu có bọ
tượng nà